Ăn nhiều chân gà có tốt cho bệnh huyết áp

Nhiều tờ báo đã tường thuật lại một nguồn tin cho biết ăn nhiều chân gà có tác dụng tốt cho người bị cao huyết áp. Thông tin này có thể gây ra những ngộ nhận không tốt trong chế độ dinh dưỡng cho người có huyết áp cao hoặc có độ cholesterol trong máu cao.

Chất ức chế men chuyển hóa từ chân gà

Thông tin trên bắt nguồn từ 1 bản tin trên tờ The Journal of Agricultural Chemistry and Food. Theo đó, các nhà khoa học Nhật Bản thuộc Trường Đại học Hiroshima và Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nippon Meat Packer’s, đã phát hiện được 4 loại protein từ những collagen trong chân gà có khả năng kiểm soát huyết áp. Collagen là những protein trong những mô liên kết của nhiều loại động vật. Các nhà nghiên cứu đã cho những con chuột cao huyết áp ăn chất chiết xuất từ chân gà. Những con chuột này đã có dấu hiệu hạ huyết áp sau 4 giờ, sau 8 giờ huyết áp giảm nhiều nhất. Nghiên cứu dài hạn cho thấy huyết áp giảm đáng kể sau l tuần cho dùng thuốc. Trước kia, người ta cũng tìm thấy trong ức gà cũng có hoạt chất này. Tuy nhiên, hoạt chất tìm thấy trong ức gà quá ít không đủ để có hiệu lực chữa bệnh. Các nhà khoa học cho rằng, những loại protein trong chân gà có tác dụng hạ huyết áp tương tự như tác dụng của các loại thuốc ức chế men chuyển hóa ACE inhibitors.

Ăn nhiều chân gà có thể làm tăng huyết áp.

Ở Hoa Kỳ, chân gà thường được xem là phế phẩm. Nhiều nơi người ta dùng chân gà làm nguyên liệu sản xuất nước soup gà. Soup gà là một món ăn bổ dưỡng có thể giúp tăng cường sức đề kháng. Tuy nhiên, TS. Byron Lee, một nhà tim mạch học thuộc trường Đại học Y California khuyên nên cẩn thận khi ăn nhiều chân gà, soup gà vì lượng muối trong soup gà có thể làm vô hiệu hóa tác dụng có ích của chân gà. Quan trọng hơn, chân gà còn nguyên lớp da ngoài có hàm lượng cao chất béo. Do đó, ăn nhiều chân gà có thể làm trệ tì và tăng những đáp ứng stress, chưa kể việc về lâu dài còn gia tăng lượng lipid máu ở những người cholesterol máu cao. Đây chính là lý do người ta thường khuyên ăn gà nên bỏ da và nội tạng. Mặt khác, theo Y học cổ truyền, thịt gà, nhất là chân gà, là một loại thực dưỡng tính ấm, có tác dụng bổ khí, tăng cường dương khí nên có thể kích hoạt những cơn khí nghịch ở những người âm hư hoặc những người dễ bị động hỏa, bao gồm người cao huyết áp.

Nói chung, loại protein chiết xuất từ chân gà với tác dụng ức chế men chuyển hóa hoàn toàn khác với chân gà toàn phần, món ăn mà những người có mỡ máu cao hoặc người cao huyết áp không nên ăn nhiều.

Được biết, cao huyết áp được xem là một đại dịch của thời đại, một căn bệnh thầm lặng có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm như: suy tim, nhồi máu cơ tim, đột quỵ. Hiện nay có khoảng 1 tỉ người trên thế giới đang mắc bệnh áp huyết cao và hơn nửa tỉ người khác đang có nguy cơ tiếp cận với căn bệnh chết người này cho đến năm 2025. Ở Hoa Kỳ, cứ mỗi 3 người trưởng thành có 1 người bị huyết áp cao. Tại nước ta, theo một số liệu mới nhất được phổ biến tại Đại hội Tim mạch Đông Nam Á vào tháng 10 vừa qua, mỗi 4 người trưởng thành có 1 người mắc phải căn bệnh này. Điều may mắn là bệnh có thể phòng chống hiệu quả, thông qua một lối sống lành mạnh gồm vận động thể lực và chế độ ăn uống ít chất béo động vật, nhiều rau quả và ngũ cốc thô.

Lương y Võ Hà

Để bé thông minh, tập trung và ghi nhớ tốt

Ngày nay, việc nuôi con không chỉ là sự lo lắng về miếng ăn, giấc ngủ cho con khỏe mạnh nữa, mà còn là làm cách nào để giúp bé phát triển trí não tối ưu, để bé thông minh nhất, hỗ trợ tối đa cho việc học hỏi sau này. Và không cần chờ đến lúc bé lớn khôn, mẹ đã có thể giúp con có sự tập trung, hình thành thói quen ghi nhớ cho não bộ ngay từ lúc lọt lòng.

DHA cần cho não trước

DHA có tên gọi đầy đủ là Docosahexaenoic Acid - một acid béo thuộc nhóm omega-3 có mặt ở khắp mọi nơi trong cơ thể nhưng tập trung nhiều nhất ở não, mắt và tim. DHA góp phần quan trọng đến việc hỗ trợ phát triển trí não để bé thông minh, thúc đẩy thị giác, nâng cao khả năng miễn dịch và giảm nguy cơ dị ứng của trẻ.

Để bé thông minh, tập trung và ghi nhớ tốt 1

DHA là dưỡng chất tối ưu cho trí não, để bé thông minh vượt trội

Theo các chuyên gia, bộ não của trẻ tăng trưởng đạt đến 80% trọng lượng não người lớn khi trẻ 2 tuổi và đạt gần 100% trọng lượng não người trưởng thành khi trẻ 6 tuổi. Quá trình này chỉ diễn ra trong khoảng thời gian rất ngắn, chủ yếu vào những năm đầu đời của trẻ. Lỡ mất thời kỳ này, trẻ sẽ mất đi gần 80% cơ hội để phát huy tiềm năng trí tuệ của mình. Do đó, để bé thông minh học hỏi tốt, cha mẹ nên cung cấp cho con những chất dinh dưỡng giúp hỗ trợ não bộ phù hợp với từng giai đoạn phát triển, đặc biệt là tích lũy lượng DHA cao trong phần não trước ngay từ lúc lọt lòng.

Hàm lượng đúng DHA để bé thông minh hơn

Theo khuyến cáo của WHO/FAO, các bà mẹ mang thai và cho con bú cần bổ sung hàm lượng khoảng 200mg/ngày để có thể bổ sung đủ DHA cho con ngay từ lúc mang thai và suốt giai đoạn cho bú. Đối với trẻ nhỏ, DHA với hàm lượng 17mg/100kcal là tối ưu. Trẻ từ 1-6 tuổi thì cần được bổ sung DHA với hàm lượng từ 75mg/ngày (dựa theo độ tuổi và cân nặng). Việc bổ sung đầy đủ DHA sẽ giúp cho bộ não phát triển toàn diện, để bé thông minh hơn.

Để bé thông minh, tập trung và ghi nhớ tốt 2

Tùy theo độ tuổi, hàm lượng DHA cần bổ sung cho trẻ sẽ thay đổi

Theo chuyên gia dinh dưỡng Nguyễn Thị Lâm, khi trẻ nhận được đầy đủ DHA với hàm lượng là từ 75mg/ngày, trí não của bé sẽ hình thành khá hoàn chỉnh. Đây là cơ sở quan trọng để bé thông minh từ những ngày đầu, tăng cường khả năng ghi nhớ và xử lý tình huống hiệu quả. Sau 3 năm đầu đời, bộ não của trẻ vẫn tăng trưởng nhưng chậm dần và gần như là dừng lại vào lúc 6 tuổi. Do đó, bố mẹ không nên bỏ qua cơ hội vàng giúp phát huy tối đa tiềm năng học hỏi của trẻ.

Hiểu rõ cha mẹ cần cung cấp đúng DHA để bé thông minh và phát triển tối ưu, gia đình Enfa A+ của Mead Johnson đã cải tiến với DHA Power+ bổ sung hàm lượng đúng DHA, phù hợp với khuyến nghị của các chuyên gia dinh dưỡng quốc tế, cùng mẹ đem đến cho trẻ những nền tảng tốt đẹp nhất.

Ai dễ bị mỡ máu cao?

Tình trạng rối loạn lipid máu ( dân gian hay gọi là mỡ máu cao) thể hỗn hợp bao gồm vừa tăng cholesterol và triglycerid đang trở nên ngày một phổ biến trên mọi đối tượng. Nếu như trước đây, người ta chỉ đề cập đến rối loạn này ở tuổi từ 60 trở lên thì hiện nay, ngay từ tuổi trên 30 đã nhiều người mắc bệnh. Nguy cơ nguy hiểm nhất của bệnh là các biến chứng tim mạch và thúc đẩy các rối loạn chuyển hoá khác. Việc điều trị bao gồm phương pháp không dùng thuốc là thay đổi lối sống và sử dụng một số thuốc đặc trị. Nhưng nói chung, rối loạn lipid máu là bệnh mạn tính đòi hỏi phải điều trị lâu dài.

Đối với người bình thường, chỉ số cholesterol ở mức dưới 5,2mmol/l; triglycerid dưới 2,3mmol/l. Nếu vượt quá từng giới hạn này sẽ dẫn đến rối loạn lipid máu( dân gian gọi là mỡ nhiễm máu) và vượt qua cả hai thì mắc phải chứng rối loạn lipid máu thể hỗn hợp.

Hình ảnh xơ vữa động mạch do rối loạn lipid máu.

Ăn quá nhiều chất béo bão hòa là nguyên nhân chủ yếu gây tăng cholesterol máu. Các chất béo bão hòa có trong các thức ăn có mỡ, đặc biệt là sữa và các sản phẩm từ sữa, thịt mỡ, bơ, hai loại dầu thực vật là dầu dừa và dầu cọ, hầu hết các loại thức ăn rán, các loại bánh như bánh bích quy và ga tô...

Thừa cân (béo phì), uống nhiều rượu và ăn nhiều thức ăn có chứa chất béo sẽ làm tăng lượng triglycerid trong máu. Uống rượu nhiều làm tăng nguy cơ bị các bệnh tim mạch như bệnh động mạch vành, đột quỵ do làm tăng lượng triglyceride trong máu và làm tăng huyết áp. Không nên uống quá 20 - 30g ethanol/ngày đối với nam giới và 10 - 20g ethanol/ngày với nữ giới. Uống rượu với lượng vừa phải (đặc biệt là rượu vang đỏ) có tác dụng bảo vệ tim do làm tăng lượng HDL-C và tác dụng chống ôxy hóa.

Khoảng dưới 10% trường hợp bị rối loạn lipid máu thứ phát do các nguyên nhân như: đái tháo đường; hội chứng thận hư; tăng urê máu; suy tuyến giáp; bệnh gan; nghiện rượu; uống thuốc tránh thai; một số thuốc tim mạch như: thuốc ức chế bêta giao cảm, nhóm thuốc lợi tiểu thiazide.

BS. Quang Anh

Để trẻ em cao hơn

Chiều cao phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như di truyền, dinh dưỡng, môi trường sống, tình trạng bệnh tật và vấn đề luyện TDTT.

Để trẻ em cao hơn 1Ảnh minh họa. Nguồn: Internet 

Những vi chất quan trọng có liên quan đến tăng trưởng chiều cao là vitamin A, vitamin D, lysin, canxi, sắt, kẽm, i-ốt. Ngoài việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng, trẻ muốn cao lớn còn phải được ngủ đủ giấc, nhất là giấc ngủ ban đêm. Hormon tăng trưởng do tuyến yên tiết ra cao nhất là vào ban đêm, khoảng 23-24 giờ khi mà trẻ đã ngủ say. Cho trẻ ngủ quá muộn, ngủ nhiều ban ngày thì lượng hormon tiết ra rất ít, trẻ thường chậm lớn, chậm phát triển chiều cao.

Để trẻ em cao hơn 2Sữa là một thực phẩm tốt giúp trẻ tăng trưởng và phát triển chiều cao. (Ảnh: Internet)

Sữa là một thực phẩm rất tốt có chứa đầy đủ chất dinh dưỡng giúp trẻ tăng trưởng và phát triển chiều cao. Sữa là nguồn cung cấp canxi quan trọng, nhất là trẻ được nuôi bằng sữa mẹ thì có cơ hội cao lớn hơn những trẻ không có sữa mẹ, vì canxi trong sữa mẹ dễ hấp thu hơn canxi trong sữa bò. Khi cai sữa mẹ, trẻ cần được bổ sung các loại sữa bột công thức theo tuổi hoặc uống sữa tươi khi trẻ đã lớn.

Để trẻ em cao hơn 3Trẻ cần được tắm nắng hàng ngày để da tổng hợp đủ Vitamin D. Ảnh: Internet.

Cho trẻ tắm nắng hằng ngày để da tổng hợp đủ vitamin D cho cơ thể. Trẻ cần được ngủ đủ giấc vào ban đêm, không để trẻ ngủ muộn sau 22 giờ. Tạo điều kiện cho trẻ được sống trong môi trường không ô nhiễm, tăng cường cho trẻ được vận động thể lực từ khi còn nhỏ.

DS Lê Quốc Thịnh

(TheoNLĐ)

Khắc phục chứng biếng ăn ở trẻ

Nhiều bậc cha mẹ rất lo lắng khi thấy con lười ăn, biếng ăn. Trẻ biếng ăn thường hay ốm vặt, chậm lớn, còi xương, suy dinh dưỡng vì không đủ lượng dinh dưỡng cung cấp cho cơ thể. Rồi dần hình thành thói quen không muốn ăn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của trẻ. Vậy vì sao trẻ biếng ăn, và có biện pháp nào để khắc phục?

Nguyên nhân gây biếng ăn

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng biếng ăn ở trẻ nhưng chủ yếu tập trung vào các nhóm nguyên nhân chính sau đây:

- Trẻ bị bệnh: Tất cả các bệnh nhiễm khuẩn đều gây ra chứng biếng ăn, dù là nhiễm khuẩn nặng hay nhẹ, cấp tính hay mạn tính như viêm VA, viêm tai, viêm đường hô hấp, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, các bệnh cúm, ho gà, tiêu chảy, viêm dạ dày, ruột, viêm gan, các bệnh đường mật, một số bệnh lý toàn thân khác (còi xương, thiếu máu, suy dinh dưỡng, thiếu vitamin..)

Ngay cả khi mọc răng trẻ cũng có thể biếng ăn: biếng ăn xuất hiện mấy tuần lễ trước khi mọc răng, khi răng đã nhú khỏi lợi trẻ lại ăn bình thường.

- Do sai lầm về ăn uống: do thay đổi chế độ ăn, trẻ chưa quen với món ăn mới, cai sữa đột ngột hoặc quá chậm, cho trẻ ăn quá nhiều khiến trẻ không tiêu hoá hết thức ăn ăn vào, ăn quá ít, chế độ ăn không cân đối, cách chế biến thức ăn không hợp với khẩu vị của trẻ, bắt trẻ ăn một loại thức ăn trong nhiều ngày, nhiều tuần, cách chế biến không phù hợp với lứa tuổi của trẻ.

- Do yếu tố tâm lý: Thường gặp ở các gia đình quan tâm lo lắng quá mức đến bữa ăn của trẻ, bắt trẻ ăn quá nhiều. Người cho ăn có thái độ không đúng: đánh mắng, bóp mồm, bóp mũi trẻ, biến bữa ăn của trẻ thành nỗi sợ hãi kinh hoàng ảnh hưởng đến tâm sinh lý của trẻ, mỗi khi nhìn thấy bát bột, bình sữa là trẻ đã sợ hãi. Ngoài ra yếu tố tâm lý còn do thay đổi môi trường sống, thay đổi người chăm sóc trẻ.

- Chứng biếng ăn do nguyên nhân tâm thần: Rất ít gặp, chỉ chẩn đoán khi đã loại trừ các nguyên nhân kể trên, chứng biếng ăn xuất hiện sớm trong vòng 2 - 3 tháng đầu, trẻ không chịu ăn uống gì, kêu khóc, ngoài bữa ăn trẻ hoàn toàn bình thường.

Khắc phục thế nào?

Nếu biếng ăn lâu dài, trẻ sẽ bị thiếu các chất dinh dưỡng dẫn đến chậm phát triển cân nặng, chiều cao, suy giảm miễn dịch dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, thiếu máu, còi xương và hậu quả cuối cùng là bị suy dinh dưỡng. Khi trẻ bị suy dinh dưỡng lại càng biếng ăn hơn, điều này tạo thành một vòng xoắn bệnh lý rất khó điều trị. Vì vậy khi trẻ mới biếng ăn phải tìm cách khắc phục ngay, không nên để tình trạng biếng ăn kéo dài ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. Khi trẻ biếng ăn không nên cho trẻ nhịn ăn, càng nhịn ăn trẻ càng biếng ăn hơn, vì khi nhịn ăn men tiêu hoá không được tiết ra làm cho tình trạng biếng ăn càng trầm trọng. Nên cho trẻ ăn ít một nhiều bữa trong ngày, thay đổi cách chế biến, thay đổi thường xuyên các món ăn đa dạng trong ngày. Cho trẻ đi khám bác sĩ để tìm ra nguyên nhân biếng ăn ở trẻ điều trị kịp thời.

Bé biếng ăn do.... người lớnBé biếng ăn do.... người lớnChế độ ăn cho người hay thức khuyaChế độ ăn cho người hay thức khuyaMẹo ăn vặt thoải mái mà không lo tăng cânMẹo ăn vặt thoải mái mà không lo tăng cân

Chế độ ăn cho bà mẹ sau sinh

Tăng cường hấp thu calo

Nhà dinh dưỡng học Shilpa Joshi nhấn mạnh về tầm quan trọng của bữa ăn lành mạnh không loại trừ dầu ăn và gia vị, trừ khi bác sĩ yêu cầu. Các mẹ cần bổ sung nhiều năng lượng, ít nhất trong 6 tháng đầu tiên, nhất là khi cho con bú. Vì vậy, người mẹ cần ăn nhiều calo hơn thông qua các bữa ăn nhỏ, giàu protein.

Ăn thịt băm nhỏ trong súp và canh nhưng không bỏ quá nhiều gia vị hoặc dầu ăn.

Bổ sung sắt

Vì sản phụ mới sinh con bị mất máu nhiều, hàm lượng sắt trong cơ thể tạm thời mất cân bằng nên cần bổ sung nhiều sắt để phòng ngừa thiếu máu. Thiếu sắt dễ khiến sản phụ bị hoa mắt, chóng mặt, trí nhớ kém, đồng thời ảnh hưởng đến sự phát triển não bộ của bé. Ăn nhiều rau bina có thể có lợi. Ngoài ra sản phụ nên ăn nhiều thịt bò nạc, lòng đỏ trứng gà, chuối, các loại đậu, rau có lá xanh đậm…

Bổ sung canxi

Người mẹ cần bổ sung nhiều canxi để tránh đau nhức, mệt mỏi và đáp ứng nhu cầu phát triển xương và răng của bé. Nếu bạn không dung nạp lactose và không thể uống sữa cũng như ăn các sản phẩm sữa, có thể bổ sung canxi theo cách khác. Mẹ nên ăn các thực phẩm chứa nhiều canxi như hải sản, cá (cá mòi, cá hồi), hạnh nhân, rau xanh đậm (súp lơ xanh, cải chíp, tỏi tây), nấm, đậu nành, quả kiwi, tôm, cua,…

Uống nhiều nước

Uống nhiều nước là cách đơn giản mà hiệu quả nhất để tăng tiết sữa. Ngoài ra, các bà mẹ mới sinh thường sợ đau và nhịn đi tiểu hoặc đại tiện, điều này có thể dẫn tới táo bón. Các bà mẹ cho con bú không thể dùng thuốc để khắc phục tình trạng này nên cách tốt nhất là phòng ngừa bằng uống nước thường xuyên.

Không chỉ là nước, các bà mẹ cũng nên ăn nhiều chất lỏng từ súp, nước dừa, nước canh, trái cây…Chất lỏng giúp thải độc tố và duy trì sự ổn định của cơ thể.

Bổ sung sữa chua

Sữa chua không chỉ giúp tiêu hóa tốt mà còn chứa các lợi khuẩn cần thiết giúp phòng tránh các nhiễm trùng đường tiết niệu.

BS Tuyết Mai

(Theo Timesofindia/ Univadis)

Dược thiện cho trẻ còi xương

Còi xương là tình trạng bệnh lý thường gặp ở trẻ nhỏ. Bệnh phát sinh do thiếu vitamin D làm cho chuyển hóa canxi và photpho bị rối loạn dẫn đến quá trình sinh trưởng của hệ xương bị trở ngại, thậm chí có thể gây nên biến dạng xương. Trong y học cổ truyền, còi xương thuộc phạm vi các chứng như “ngũ trì ngũ nhuyễn”, “quy hung quy bối”, “hãn chứng”, “cam chứng”, “bộ phận giải lư”...Người xưa cho rằng trẻ bị còi xương có thể do bẩm thụ các yếu tố từ cha mẹ không đủ (tiên thiên bất túc) hoặc do quá trình nuôi dưỡng kém điều hòa (hậu thiên thất điều) làm cho hai tạng tỳ và thận bị hư tổn. Thận chủ xương tủy, tỳ chủ cơ nhục, tỳ thận hư yếu khiến cho cơ xương mềm yếu, kém vững chắc và dễ bị biến dạng.

Dược thiện cho trẻ còi xương 1
Dược thiện cho trẻ còi xương 2

Để điều trị căn bệnh này, người xưa rất chú trọng việc sử dụng các thực phẩm và vị thuốc chế biến thành những món ăn rất đơn giản nhưng lại được trẻ dễ chấp nhận, vừa đạt hiệu quả trị liệu vừa cung cấp các chất dinh dưỡng lại rất rẻ tiền và dễ kiếm. Xin được dẫn ra dưới đây một số ví dụ điển hình

- Trứng gà tươi vài quả, rửa sạch, đập lấy vỏ rồi sao vàng tán thành bột mịn, đựng trong lọ kín để dùng dần. Mỗi ngày uống 1 - 2 lần, mỗi lần 5g với nước cháo.

- Chân con cua 100g rửa sạch, sao vàng tán bột, mỗi ngày cho trẻ uống 5g với nước cháo.

- Trứng gà 1 quả, rửa sạch, luộc chín rồi bóc lấy lòng đỏ, dùng thìa nghiền nhỏ rồi hòa với cháo, ăn nóng.

- Hến 10 con rửa sạch, đánh đều với 1 quả trứng gà rồi hấp cách thủy, ăn nóng.

- Đầu tôm tươi lượng tùy ý, sắc lấy nước uống.

- Xương sụn lợn 500g rửa sạch hầm nhừ với 50g đậu tương rồi cho trẻ ăn làm vài lần với lượng thích hợp.

- Cá trắm đen 1 con, làm sạch (chú ý bỏ hết mật) rồi cắt khúc, xào qua với gừng tươi, hành và một chút dầu thực vật rồi đổ nước hầm thật nhừ, chế đủ gia vị, chia ăn nhiều lần.

- Hà thủ ô 100g, ngưu tất 100g ngâm với rượu trắng trong 7 ngày rồi lấy ra phơi khô, sao thơm tán bột, đựng trong lọ kín dùng dần. Mỗi lần lấy 5 quả đại táo, khía dọc bỏ hột rồi cho bột thuốc vào trong, đem hấp cách thủy cho chín rồi ăn trong ngày.

- Ô tặc cốt 15g, quy bản 15g, tây thảo 5g. Tất cả sắc kỹ lấy nước, bỏ bã rồi hòa với một chút đường đỏ chia uống vài lần.

- Quy bản 15g, cốt toái bổ 15g, đẳng sâm 10g. Tất cả đem sắc kỹ trong 1 giờ rồi lọc lấy nước, hòa với một chút đường đỏ chia uống vài lần.

- Hoàng kỳ sao 60g, nhân sâm 5g, gạo tẻ 150g. Đem hoàng kỳ và nhân sâm sắc kỹ lấy nước rồi cho gạo vào ninh thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày.

- Quy bản 30g, chân gà 2 đôi, hồ đào 10g. Quy bản và chân gà chặt vụn, sắc kỹ lấy nước rồi cho hồ đào vào nấu nhừ, nêm đủ muối và gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.

- Long cốt 30g, mẫu lệ 20g, sơn thù 10g, gạo tẻ 100g. Các vị thuốc đem sắc kỹ 2 lần, mỗi lần 40 phút rồi lọc lấy nước nấu với gạo thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày.

- Xương cá sao dấm, bột nhau thai 60g, vỏ trứng gà sao 18g, đường trắng 25g. Tất cả sao khô tán bột. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 0,5g.

- Bột thịt  cóc 10g, lòng đỏ trứng gà 2g, chuối ngự 12g. Đây là liều của một viên thuốc. Bột cóc nên mua ở các cơ sở y tế, chuối sấy khô nhưng còn dẻo, giã nhuyễn, trứng gà đánh tan sấy khô tán bột. Ba thứ trộn lại giã nhuyễn, đóng vào khuôn, sấy khô. Liều dùng: Trẻ em 8 - 20 tháng mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1 viên; 20 - 30 tháng mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 2 viên; 30 - 40 tháng mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 3 viên.

Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn